Đây là những câu hỏi thường xuyên xuất hiện trong các tranh chấp về thừa kế, nhà đất, di chúc và phân chia tài sản trong gia đình.
Trên thực tế, nhiều gia đình vẫn tồn tại quan niệm “con trưởng được hưởng nhiều hơn”, “con dâu được chia tài sản của bố mẹ chồng”, “con ngoài giá thú thì không được hưởng thừa kế”, hoặc “đã được bố mẹ cho đất rồi thì sau này không được nhận thêm di sản”.
Những quan niệm này không phải lúc nào cũng đúng.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, mọi cá nhân bình đẳng về quyền để lại tài sản và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người cùng hàng thừa kế về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau.
Dưới đây là 8 vấn đề quan trọng được Luật sư Nguyễn Minh Long – Công ty Luật Dragon phân tích để mọi người có thêm thông tin khi gia đình phát sinh tranh chấp thừa kế.
1. CON NGOÀI GIÁ THÚ CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ NHƯ CON TRONG GIÁ THÚ KHÔNG?
Có, nếu quan hệ cha, mẹ, con được xác lập theo pháp luật.
Đây là một trong những câu hỏi nhạy cảm nhưng rất quan trọng.
Pháp luật không đặt ra nguyên tắc rằng một người sinh ra ngoài quan hệ hôn nhân thì bị mất quyền thừa kế.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định rõ: con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình.
Bộ luật Dân sự cũng xác định hàng thừa kế thứ nhất gồm con đẻ và con nuôi của người chết. Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau nếu thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ:
Ông A có vợ hợp pháp và hai người con trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, ông A có một người con với người phụ nữ khác và quan hệ cha con đã được xác định hợp pháp.
Nếu ông A chết không để lại di chúc, người con này không mất quyền thừa kế chỉ vì được sinh ra ngoài hôn nhân.
Nếu tất cả đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và không có tình tiết đặc biệt, người con ngoài giá thú có thể được hưởng phần di sản theo pháp luật tương ứng với những người con khác.
Nhưng vấn đề khó nhất là gì?
Đó là chứng minh quan hệ cha con.
Nếu người cha không thừa nhận, giấy khai sinh không thể hiện thông tin về cha hoặc các bên có tranh chấp thì có thể phát sinh thủ tục xác định cha, con.
Luật Hôn nhân và gia đình quy định con có quyền nhận cha, mẹ kể cả khi cha, mẹ đã chết; trong trường hợp có tranh chấp, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con có thể phải được giải quyết theo trình tự pháp luật.
Vì vậy, trong tranh chấp thừa kế, đừng chỉ nhìn vào giấy khai sinh hoặc tình trạng hôn nhân của cha mẹ để kết luận một người có hay không có quyền hưởng di sản.
2. CON NUÔI CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ CỦA CHA MẸ NUÔI KHÔNG?
Có.
Đây là vấn đề đã được pháp luật quy định tương đối rõ.
Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế theo các quy định về hàng thừa kế và thừa kế thế vị.
Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng xác định từ thời điểm việc nuôi con nuôi được xác lập, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Điều đó có nghĩa:
Nếu ông A và bà B nhận C làm con nuôi hợp pháp.
Sau đó ông A chết không để lại di chúc.
C có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với những người thừa kế khác của ông A.
Không có nguyên tắc:
“Con nuôi chỉ được nuôi dưỡng chứ không được chia tài sản.”
Quan niệm này là không đúng.
Con nuôi có được hưởng thừa kế từ cha mẹ đẻ không?
Đây là vấn đề cần xem xét theo từng trường hợp và tình trạng pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi.
Luật Nuôi con nuôi quy định hệ quả của việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi, trong đó quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được xác lập theo pháp luật.
Do đó, khi một vụ việc vừa liên quan đến cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và di sản, cần kiểm tra hồ sơ nhận nuôi, thời điểm xác lập quan hệ nuôi con nuôi và tình trạng của quan hệ đó.
Đặc biệt, nếu việc nuôi con nuôi đã bị chấm dứt theo quyết định có hiệu lực pháp luật thì hậu quả pháp lý về quan hệ cha mẹ – con nuôi cũng thay đổi.
3. CON DÂU CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ TỪ BỐ MẸ CHỒNG KHÔNG?
Đây là câu hỏi rất nhiều gia đình hiểu nhầm.
Theo diện thừa kế theo pháp luật, con dâu không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ chồng chỉ vì quan hệ hôn nhân với con trai của họ.
Điều 651 Bộ luật Dân sự quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm:
- Vợ;
- Chồng;
- Cha đẻ, mẹ đẻ;
- Cha nuôi, mẹ nuôi;
- Con đẻ;
- Con nuôi của người chết.
Không có “con dâu” trong danh sách này.
Ví dụ:
Ông A và bà B có người con trai là C. C kết hôn với D.
Ông A chết không để lại di chúc.
D là con dâu của ông A.
D không đương nhiên trở thành người thừa kế theo pháp luật của ông A chỉ vì là vợ của C.
Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý một tình huống khác.
Nếu C là con của ông A và C còn sống tại thời điểm ông A chết, thì C là người thừa kế. Sau khi C nhận di sản, phần tài sản đó có thể trở thành tài sản của C.
Nếu sau này C chết, D có thể trở thành người thừa kế của C với tư cách là vợ của C nếu đáp ứng điều kiện pháp luật.
Như vậy, cần phân biệt:
D không trực tiếp thừa kế di sản của bố chồng theo hàng thừa kế chỉ vì là con dâu.
Nhưng D có thể có quyền thừa kế đối với di sản của chồng mình, trong đó có thể bao gồm phần tài sản mà chồng đã nhận từ cha mẹ.
Ngoài ra, nếu bố mẹ chồng lập di chúc hợp pháp để lại tài sản cho con dâu thì con dâu có thể hưởng theo di chúc, vì người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và phân định phần di sản cho từng người.
4. CHÁU CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ KHI BỐ/MẸ MÌNH ĐÃ MẤT TRƯỚC ÔNG BÀ KHÔNG?
Có thể, theo cơ chế thừa kế thế vị.
Đây là một quy định rất quan trọng trong các gia đình có nhiều thế hệ.
Điều 652 Bộ luật Dân sự quy định: nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Ví dụ:
Ông A có ba người con:
- B;
- C;
- D.
B chết trước ông A và B có hai người con là E và F.
Sau đó ông A chết không để lại di chúc.
Nếu các điều kiện pháp luật được đáp ứng, E và F có thể thừa kế thế vị phần mà B đáng lẽ được hưởng.
Giả sử di sản của ông A được chia thành ba suất tương ứng với B, C và D.
Phần của B không biến mất.
Phần đó được chia cho E và F theo cơ chế thừa kế thế vị.
Cần phân biệt một điểm rất quan trọng
Thừa kế thế vị không phải là:
“Cháu cứ là cháu thì được hưởng phần của ông bà.”
Không phải mọi trường hợp cháu đều tự động được hưởng.
Điều kiện về việc người con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm là yếu tố quan trọng.
Nếu người con vẫn còn sống nhưng từ chối nhận di sản, việc phân chia không đương nhiên biến thành thừa kế thế vị cho các con của người đó.
Đây là điểm nhiều gia đình nhầm lẫn.
5. CHA MẸ CÓ ĐƯỢC QUYỀN KHÔNG CHO MỘT NGƯỜI CON HƯỞNG THỪA KẾ KHÔNG?
Có quyền định đoạt tài sản bằng di chúc, nhưng quyền này không phải tuyệt đối trong mọi trường hợp.
Bộ luật Dân sự quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế và phân định phần di sản cho từng người.
Vì vậy, về nguyên tắc, cha mẹ có thể lập di chúc không để tài sản cho một người con.
Nhưng có một ngoại lệ cực kỳ quan trọng: người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự, trong những điều kiện luật định, các đối tượng như:
- Con chưa thành niên;
- Cha, mẹ;
- Vợ, chồng;
- Con thành niên không có khả năng lao động;
vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, ngay cả khi họ không được chỉ định trong di chúc hoặc được cho hưởng ít hơn mức luật định.
Ví dụ:
Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người con cả.
Người con út là người chưa thành niên tại thời điểm mở thừa kế.
Trong trường hợp đáp ứng điều kiện của Điều 644, người con út có thể vẫn được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, còn trường hợp “không có quyền hưởng di sản”
Điều 621 Bộ luật Dân sự quy định một số trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản, chẳng hạn người có hành vi đặc biệt nghiêm trọng đối với người để lại di sản hoặc có hành vi lừa dối, cưỡng ép, giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, đây là vấn đề phải được đánh giá dựa trên căn cứ pháp luật và chứng cứ cụ thể.
Không thể chỉ vì cha mẹ nói “tôi không cho nó hưởng” mà mặc nhiên làm mất quyền thừa kế của một người.
6. NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC HƯỞNG ĐẤT LÚC CHA MẸ CÒN SỐNG CÓ ĐƯỢC TIẾP TỤC HƯỞNG THỪA KẾ KHÔNG?
Có thể có.
Đây là vấn đề thường gây tranh cãi trong gia đình.
Ví dụ:
Cha mẹ có ba người con A, B và C.
Khi còn sống, cha mẹ đã tặng cho A một mảnh đất.
Sau đó cha mẹ qua đời và còn một căn nhà cùng một mảnh đất khác.
B và C cho rằng:
“A đã được cho đất rồi thì không được chia thêm.”
Cách hiểu này không phải lúc nào cũng đúng.
Cần xác định giao dịch trước đây là gì:
- Tặng cho;
- Chuyển nhượng;
- Cho mượn;
- Cho ở nhờ;
- Hay chỉ là lời hứa “sau này bố mẹ sẽ cho”.
Nếu cha mẹ đã tặng cho tài sản hợp pháp và hoàn tất việc chuyển quyền theo quy định, tài sản đó có thể đã thuộc về người con và không còn là di sản của cha mẹ tại thời điểm mở thừa kế.
Nhưng điều này không tự động làm người con mất quyền hưởng phần di sản còn lại.
Nếu cha mẹ chết không để lại di chúc và người con vẫn thuộc hàng thừa kế thì người đó vẫn có thể hưởng phần di sản còn lại theo pháp luật, trừ khi có căn cứ pháp lý khác.
Ví dụ:
Cha mẹ đã tặng cho A một căn nhà trị giá 3 tỷ đồng.
Khi chết, cha mẹ còn một mảnh đất trị giá 6 tỷ đồng.
Nếu A vẫn là người thừa kế theo pháp luật và không có căn cứ loại trừ quyền hưởng di sản, việc A đã được tặng căn nhà trước đó không tự động đồng nghĩa A bị loại khỏi việc hưởng mảnh đất còn lại.
Tuy nhiên, nếu trong giao dịch hoặc thỏa thuận trước đây có nội dung khác, hoặc phát sinh tranh chấp về nguồn gốc tài sản, việc giải quyết phải dựa vào hồ sơ cụ thể.
Đã được cha mẹ cho tài sản khi còn sống và quyền hưởng di sản sau khi cha mẹ chết là hai vấn đề pháp lý cần phân biệt.
7. NGƯỜI THỪA KẾ ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI CÓ ĐƯỢC NHẬN TÀI SẢN THỪA KẾ KHÔNG?
Có thể được nhận, nhưng quyền cụ thể phụ thuộc vào quốc tịch, tình trạng cư trú và loại tài sản.
Đây là vấn đề ngày càng phổ biến khi người Việt Nam có con cái học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài.
Bộ luật Dân sự có các quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Về nguyên tắc, thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch ngay trước khi chết; riêng việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật nơi có bất động sản.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với nhà đất tại Việt Nam.
Luật Đất đai 2024 đã có những quy định mới về người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo đó, một số đối tượng được nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo điều kiện luật định; trong một số trường hợp khác, người nhận thừa kế có thể được hưởng giá trị của phần thừa kế thay vì trực tiếp được cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất.
Ví dụ:
Cha mẹ tại Việt Nam mất và để lại căn nhà.
Một người con đang sinh sống ở nước ngoài.
Không thể chỉ nói:
“Ở nước ngoài thì không được hưởng.”
Cũng không thể nói:
“Ở nước ngoài thì chắc chắn được đứng tên toàn bộ nhà đất.”
Phải kiểm tra người đó là công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài hay người nước ngoài; loại tài sản là gì; nhà ở có gắn với đất hay không; người đó có thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay không.
Luật Đất đai 2024 hiện có quy định riêng về quyền của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với nhà ở và quyền sử dụng đất, trong đó có trường hợp nhận thừa kế.
Do đó, nếu người thừa kế đang ở nước ngoài, nên kiểm tra hồ sơ trước khi thực hiện thủ tục phân chia di sản.
8. NGƯỜI THỪA KẾ TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN THÌ PHẦN TÀI SẢN ĐÓ THUỘC VỀ AI?
Không phải cứ một người từ chối nhận là phần tài sản đó lập tức thuộc về một người cụ thể.
Bộ luật Dân sự cho phép người thừa kế từ chối nhận di sản, nhưng việc từ chối không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác. Việc từ chối phải được lập thành văn bản và phải thực hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Ví dụ:
Ông A chết, có ba người con B, C và D cùng thuộc hàng thừa kế.
B tuyên bố từ chối nhận di sản.
Phần của B không có nghĩa là:
“B cho luôn phần đó cho C.”
Nếu B muốn chuyển lợi ích tài sản cho một người cụ thể thì phải xem xét đúng bản chất pháp lý của hành vi.
Khi một người từ chối nhận di sản, phần di sản liên quan được xử lý theo quy định về thừa kế. Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc hoặc pháp luật, hoặc có nhưng không có quyền hưởng hoặc từ chối nhận, thì tài sản còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.
Do đó, không nên hiểu đơn giản:
“Từ chối thừa kế = cho người khác.”
Hai hành vi này có bản chất pháp lý khác nhau.
⚠️ 5 ĐIỂM ĐẶC BIỆT CẦN NHỚ KHI XÁC ĐỊNH NGƯỜI THỪA KẾ
1. Không phân biệt con trong hay ngoài giá thú
Nếu quan hệ cha mẹ – con được xác lập hợp pháp, con sinh ra không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ.
2. Con nuôi hợp pháp có quyền thừa kế
Con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế của nhau theo quy định pháp luật.
3. Con dâu không mặc nhiên là người thừa kế của bố mẹ chồng
Nhưng con dâu có thể hưởng tài sản từ chồng nếu người chồng là người thừa kế của bố mẹ.
4. Cháu có thể được thừa kế thế vị
Nếu cha hoặc mẹ của cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà là người để lại di sản, cháu có thể hưởng phần mà cha hoặc mẹ đáng lẽ được hưởng.
5. Từ chối nhận di sản phải đúng thủ tục
Không thể chỉ nói miệng “tôi không lấy tài sản” rồi mặc nhiên coi phần di sản đã được chuyển cho người khác. Việc từ chối phải lập thành văn bản và thực hiện trước thời điểm phân chia di sản.
⚖️ GÓC NHÌN CỦA LUẬT SƯ NGUYỄN MINH LONG – CÔNG TY LUẬT DRAGON
Theo quan điểm của Luật sư Nguyễn Minh Long – Công ty Luật Dragon, trong tranh chấp thừa kế, câu hỏi đầu tiên không nên là:
“Ai được nhiều hơn?”
mà phải là:
“Ai thực sự có quyền thừa kế và di sản thực sự gồm những tài sản nào?”
Bởi chỉ cần xác định sai một người thừa kế, toàn bộ phương án phân chia tài sản có thể bị ảnh hưởng.
Một người con ngoài giá thú nhưng đã xác lập quan hệ cha con hợp pháp có thể có quyền thừa kế.
Một người con nuôi hợp pháp có quyền thừa kế đối với cha mẹ nuôi.
Một người con dâu không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ chồng chỉ vì quan hệ hôn nhân, nhưng có thể hưởng tài sản thông qua di sản của chồng hoặc theo di chúc.
Một người cháu có thể thừa kế thế vị nếu đáp ứng điều kiện.
Một người đang sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với việc mất quyền thừa kế, nhưng khi di sản là bất động sản tại Việt Nam thì phải xem xét thêm quy định pháp luật đất đai và nhà ở.
Một người đã được cha mẹ cho tài sản khi còn sống cũng không đương nhiên mất quyền hưởng di sản còn lại.
Và một người từ chối nhận di sản không có nghĩa là có thể tùy ý “tặng” phần thừa kế đó cho một người khác bằng lời nói.
Điều quan trọng nhất là phải xác định đúng quan hệ pháp lý và chứng cứ.
🔴 KẾT LUẬN: AI THỰC SỰ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ?
Thừa kế là một lĩnh vực pháp luật mà tình cảm gia đình và quy định pháp luật đôi khi không hoàn toàn giống nhau.
Cha mẹ có thể thương người con đã chăm sóc mình nhiều năm.
Anh chị em có thể cho rằng con trưởng phải được hưởng nhiều hơn.
Một người có thể đã được cha mẹ cho đất khi còn sống.
Một người con có thể đang định cư ở nước ngoài.
Một người con khác có thể được sinh ra ngoài hôn nhân.
Nhưng khi tranh chấp xảy ra, Tòa án phải căn cứ vào quy định pháp luật, di chúc, quan hệ nhân thân, nguồn gốc tài sản và chứng cứ để xác định quyền của từng người.
Theo pháp luật hiện hành, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi; những người cùng hàng về nguyên tắc hưởng phần di sản bằng nhau.
Tuy nhiên, để xác định phần hưởng cụ thể cần tiếp tục kiểm tra:
Có di chúc hay không?
Di chúc có hợp pháp không?
Có người thừa kế bắt buộc không?
Có người thừa kế thế vị không?
Có người không được quyền hưởng di sản không?
Có người từ chối nhận di sản không?
Tài sản là tài sản riêng hay tài sản chung?
Có tài sản đã được tặng cho trước khi người để lại di sản chết không?
Người thừa kế có đang ở nước ngoài không?
Di sản là tiền, động sản hay nhà đất?
Đặc biệt với nhà đất, tài sản có giá trị lớn hoặc gia đình đã phát sinh mâu thuẫn, việc xác định người thừa kế và phân chia di sản nên được thực hiện một cách thận trọng.
LUẬT SƯ NGUYỄN MINH LONG – CÔNG TY LUẬT DRAGON
Bảo vệ quyền lợi – Dẫn lối công lý
Tư vấn thừa kế – Di chúc – Tranh chấp nhà đất – Phân chia di sản – Xác định người thừa kế
Bài viết nhằm mục đích phổ biến, tham khảo pháp luật. Việc xác định quyền thừa kế cụ thể phải căn cứ vào hồ sơ nhân thân, giấy tờ tài sản, di chúc (nếu có), thời điểm mở thừa kế, quan hệ cha mẹ – con và toàn bộ chứng cứ của từng vụ việc.
Nguồn pháp lý chính: Bộ luật Dân sự 2015; Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Luật Nuôi con nuôi 2010; Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn có liên quan.


