Bởi lẽ, ở cả hai tội danh này, người phạm tội đều nhận được tài sản một cách hợp pháp trước khi nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của hai tội hoàn toàn khác nhau, đặc biệt là ở chủ thể thực hiện hành vi và phạm vi quyền đối với tài sản được giao.
Một vụ án được Viện kiểm sát nhân dân tối cao đưa ra rút kinh nghiệm gần đây đã cho thấy ranh giới này mong manh đến mức chỉ cần xác định sai tư cách chủ thể là có thể dẫn đến việc định sai tội danh.
Vụ án của Vũ Huân Mạnh: Cùng một hành vi nhưng hai quan điểm định tội
Theo nội dung vụ án, Vũ Huân Mạnh trước đây là công nhân lái xe chở nước rửa đường cho một công ty do bác ruột làm Giám đốc. Hợp đồng lao động giữa Mạnh và công ty đã chấm dứt từ ngày 01/8/2024.
Đến đầu tháng 9/2024, do thiếu người làm việc và vì tin tưởng cháu ruột, người bác gọi Mạnh quay lại hỗ trợ chở nước. Hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới, cũng không có quyết định tuyển dụng hay giao nhiệm vụ chính thức. Người bác chỉ giao chiếc xe cùng giấy tờ xe để Mạnh sử dụng trong việc vận chuyển nước.
Sau khi được giao xe, Mạnh đã tự ý bán cả xe và bồn chứa nước với giá 92 triệu đồng, sau đó sử dụng toàn bộ số tiền vào mục đích cá nhân.
Điều đáng chú ý là Viện kiểm sát truy tố Mạnh về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 BLHS, nhưng Tòa án khu vực 1 Hải Phòng lại tuyên bị cáo phạm tội Tham ô tài sản theo khoản 1 Điều 353 BLHS, với mức án 24 tháng tù.
Sau đó, Thông báo số 113/TB-VKSTC ngày 12/5/2026 của Vụ 7 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao khẳng định cáo trạng truy tố của Viện là đúng, còn bản án của Tòa án đã xác định sai tội danh.
Một vụ việc khác lại được xác định là Tham ô
Nếu chỉ nhìn vào bề ngoài, nhiều người sẽ cho rằng kết luận của VKSNDTC mâu thuẫn với hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
Tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, Hội đồng Thẩm phán từng giải đáp tình huống một nhân viên thu cước viễn thông sau khi thu tiền của khách hàng đã không nộp lại cho công ty mà chiếm đoạt.
Trong trường hợp này, TANDTC xác định người nhân viên phạm tội Tham ô tài sản.
Thoạt nhìn, cả hai vụ án đều có điểm giống nhau:
- Người phạm tội đều nhận tài sản của doanh nghiệp một cách hợp pháp.
- Sau khi nhận tài sản mới nảy sinh ý định chiếm đoạt.
- Tài sản đều thuộc sở hữu của tổ chức.
Tuy nhiên, kết luận pháp lý lại hoàn toàn khác nhau.
Điều này đặt ra câu hỏi: Đâu mới là tiêu chí quyết định để phân biệt giữa Tham ô và Lạm dụng tín nhiệm?
Lằn ranh nằm ở tư cách chủ thể
Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự, tham ô tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Như vậy, muốn cấu thành tội Tham ô phải đồng thời đáp ứng hai điều kiện bắt buộc.
Thứ nhất, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn
Khoản 2 Điều 352 BLHS quy định người có chức vụ, quyền hạn là người được bổ nhiệm, bầu cử, tuyển dụng, giao kết hợp đồng hoặc được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ đó.
Đối với doanh nghiệp ngoài Nhà nước, khoản 6 Điều 353 cũng mở rộng phạm vi áp dụng đối với những người được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Nói cách khác, không phải bất kỳ ai đang làm việc hoặc từng làm việc cho doanh nghiệp đều là chủ thể của tội Tham ô.
Thứ hai, người đó phải được giao quản lý chính tài sản bị chiếm đoạt
Đây là điều kiện thường bị nhầm lẫn nhất.
Người phạm tội không chỉ đơn thuần được giao cầm giữ hay sử dụng tài sản mà phải được trao quyền quản lý hợp pháp đối với tài sản đó.
Quyền quản lý bao gồm việc:
- bảo quản,
- kiểm soát,
- phân công sử dụng,
- quyết định việc khai thác,
- chịu trách nhiệm đối với tài sản.
Nếu người nhận tài sản chỉ được giao sử dụng để thực hiện công việc thì chưa thể coi là được giao quản lý.
Thiếu một trong hai điều kiện trên thì hành vi sẽ không còn thuộc phạm vi Điều 353 mà chuyển sang xem xét theo Điều 175 về Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Vì sao nhân viên thu cước viễn thông bị xử về tội Tham ô?
Trong tình huống được TANDTC giải đáp, người nhân viên đang tồn tại quan hệ lao động hợp pháp với doanh nghiệp.
Theo nhiệm vụ được giao, anh ta trực tiếp thu tiền của khách hàng, quản lý số tiền này và có trách nhiệm nộp lại cho công ty.
Như vậy:
- người này là người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của Điều 352;
- đồng thời cũng là người được giao quản lý chính số tiền đã thu.
Cả hai điều kiện của Điều 353 đều được đáp ứng.
Việc người nhân viên sau đó chiếm đoạt số tiền đang quản lý chính là hành vi tham ô tài sản.
Vì sao Vũ Huân Mạnh không phạm tội Tham ô?
Ngược lại, vụ án của Vũ Huân Mạnh lại thiếu cả hai điều kiện nêu trên.
Không còn tư cách người có chức vụ, quyền hạn
Tại thời điểm được giao xe, hợp đồng lao động giữa Mạnh và công ty đã chấm dứt hơn một tháng.
Việc người bác gọi Mạnh quay lại chỉ là sự giúp đỡ mang tính cá nhân, hoàn toàn không có:
- hợp đồng lao động mới,
- quyết định tuyển dụng,
- quyết định giao nhiệm vụ,
- thỏa thuận tiền lương,
- hay bất kỳ căn cứ nào xác lập quan hệ lao động với công ty.
Do đó, Mạnh không còn là người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp.
Không được giao quản lý tài sản
Điểm quan trọng hơn là Mạnh chỉ được giao chiếc xe để lái xe chở nước.
Anh không được giao quyền:
- quản lý xe,
- quyết định việc điều chuyển xe,
- sửa chữa,
- thanh lý,
- bán,
- cho thuê,
- hoặc định đoạt chiếc xe.
Nói cách khác, Mạnh chỉ được sử dụng tài sản, chứ không được quản lý tài sản.
Đây là điểm khác biệt mang tính bản chất.
Sau khi nhận xe một cách hợp pháp nhờ sự tin tưởng của người bác, Mạnh đã lợi dụng chính sự tin tưởng đó để bán xe lấy tiền tiêu xài.
Cấu trúc hành vi này hoàn toàn phù hợp với dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS.
"Được giao sử dụng" và "được giao quản lý" là hai khái niệm khác nhau
Qua vụ án trên có thể thấy, rất nhiều người thường đồng nhất hai khái niệm này.
Thực tế, pháp luật hình sự phân biệt rất rõ.
Người được giao sử dụng tài sản chỉ có quyền khai thác tài sản đúng mục đích được giao.
Trong khi đó, người được giao quản lý tài sản phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với tài sản và có quyền hạn nhất định trong việc quản lý tài sản đó.
Chính sự khác biệt này quyết định người thực hiện hành vi sẽ bị xử lý về Tham ô hay Lạm dụng tín nhiệm.
Sai lầm của bản án sơ thẩm
Có thể thấy, bản án sơ thẩm đã bị tác động bởi hai yếu tố rất dễ gây nhầm lẫn.
Thứ nhất, Mạnh từng là công nhân của công ty.
Thứ hai, người giao xe lại là bác ruột đồng thời là Giám đốc công ty.
Nhìn bề ngoài, vụ việc giống như một nhân viên công ty chiếm đoạt tài sản của chính công ty.
Tuy nhiên, khi xem xét đúng thời điểm pháp lý phát sinh hành vi thì Mạnh không còn là người lao động của doanh nghiệp và cũng không được giao quản lý chiếc xe.
Việc bỏ qua hai yếu tố này đã dẫn đến việc định sai tội danh.
Định sai tội danh không chỉ là sai điều luật
Có ý kiến cho rằng cả hai tội đều có khung hình phạt tương đương nên việc xác định sai không quá nghiêm trọng.
Quan điểm này là chưa đầy đủ.
Tội Tham ô tài sản thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng, kéo theo nhiều hậu quả pháp lý đặc biệt như:
- ảnh hưởng đến việc xem xét án treo;
- quy định nghiêm ngặt hơn về thu hồi tài sản tham nhũng;
- ảnh hưởng đến nhân thân người phạm tội;
- tác động đến việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong các vụ án sau.
Trong khi đó, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội xâm phạm quyền sở hữu và không mang bản chất của tội phạm tham nhũng.
Do vậy, định sai tội danh đồng nghĩa với việc xác định sai bản chất pháp lý của hành vi, chứ không đơn thuần là áp dụng nhầm điều luật.
Một số kiến nghị nhằm hạn chế việc định sai tội danh
Từ vụ án này, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Thứ nhất, khi giải quyết các vụ án chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp, cơ quan tiến hành tố tụng nên thực hiện quy trình đánh giá theo hai bước độc lập:
- Xác định tại thời điểm nhận tài sản, người thực hiện hành vi có phải là người có chức vụ, quyền hạn hay không.
- Xác định tài sản được giao để quản lý hay chỉ được giao sử dụng.
Chỉ khi cả hai điều kiện cùng được đáp ứng mới có căn cứ xem xét tội Tham ô.
Thứ hai, cần có hướng dẫn thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về việc phân biệt giao quản lý với giao sử dụng, bởi đây là điểm gây nhầm lẫn nhiều nhất trong thực tiễn.
Thứ ba, khi tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực ngoài Nhà nước, cần quy định rõ tiêu chí về quyền hạn thực chất, tránh việc mở rộng quá mức phạm vi chủ thể của tội Tham ô, dẫn đến việc hình sự hóa các quan hệ dân sự hoặc lao động thông thường.
Kết luận
Qua hai tình huống tưởng chừng giống nhau nhưng lại có kết quả định tội khác nhau, có thể khẳng định rằng ranh giới giữa tội Tham ô tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không nằm ở hành vi chiếm đoạt, mà nằm ở tư cách pháp lý của người thực hiện hành vi và phạm vi quyền đối với tài sản được giao.
Một người chỉ có thể bị xử lý về tội Tham ô tài sản khi đồng thời là người có chức vụ, quyền hạn và được giao quản lý chính tài sản bị chiếm đoạt. Nếu chỉ được giao tài sản để sử dụng hoặc nhận tài sản trên cơ sở sự tin tưởng hợp pháp rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt, hành vi sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đây là bài học quan trọng không chỉ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội chính xác, mà còn góp phần bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự.


