Need Help? 1900 599 979

Án lệ

Fun facts
Án lệ số 85/2026/AL về việc tham gia tố tụng của doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm

Án lệ số 85/2026/AL về việc tham gia tố tụng của doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm

Cập nhập: 12/6/2026 | 9:39:05 AM - CÔNG TY LUẬT DRAGON

Án lệ số 85/2026/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 21/05/2026 và được công bố theo Quyết định 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nguồn án lệ:

 Bản án phúc thẩm số 64/2024/DS-PT ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về vụ án dân sự "Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm" giữa nguyên đơn là ông Lương Văn H với bị đơn là Tổng Công ty bảo hiểm B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 02 người.

Vị trí nội dung án lệ:

 
 

Đoạn 7, 8, 10 và 11 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung án lệ:

- Tình huống án lệ:

 
 

Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm xác định doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu có nghĩa vụ giao kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và có quyền yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra; không quy định doanh nghiệp bảo hiểm thành viên trực tiếp có trách nhiệm với bên mua bảo hiểm.

Bên mua bảo hiểm không giao kết hợp đồng với các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên mà giao kết với doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu và phát sinh tranh chấp hợp đồng này. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu không yêu cầu đưa các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và không đưa vào tham gia tố tụng.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024 và 2025).

Từ khóa của án lệ:

"Hợp đồng bảo hiểm”; “Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm"; "Doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu”; “Doanh nghiệp bảo hiểm thành viên".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/8/2019, ông Lương Văn H đã ký hợp đồng bảo hiểm tàu cả số QNA.BHIS.19.1611 với Công ty Bảo hiểm B1 về việc mua bảo hiểm cho tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS của ông H làm chủ sở hữu. Cụ thể: Số tiền bảo hiểm là 2.450.000.000 đồng (Hai tý bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn bảo hiểm từ ngày 28/8/2019 đến ngày 28/8/2020.

Lúc 12 giờ 20 phút ngày 02/6/2020, tâu cả số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H do ông H làm thuyền trưởng xuất bến tại Trạm kiểm soát Biên phòng A, huyện N, tỉnh Quảng Nam, trên tàu có 05 thuyền viên ra khơi để hành nghề câu mực, có đủ điều kiện xuất bến theo quy định kiểm soát phương tiện của Trạm kiểm soát Biên phòng A. Khi đang di chuyển ra khơi đến 19 giờ cũng ngày tàu đang ở tại vị trí tọa độ 15°32 N 109°16 E thì tàu của ông Lương Văn H bất ngờ bị gió động, sóng biển lớn đánh khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi làm nước tràn vào tàu. Ông H đã hô hào thuyền viên sử dụng 02 máy bơm để bơm nước và lấy can nhựa tát nước ra khỏi tàu, nhưng do bị vỡ be to quá nên không khắc phục được Lúc đó, ông H thấy cách khoảng 08 đến 09 hải lý có ánh sáng điện nên ông H cho tàu chạy đến nhờ hỗ trợ, nhưng đến gần cách khoảng 500m thì tàu bị chết máy và chìm dần. Nhận thấy không thể cứu tàu được nên ông H cho các thuyền viên lên 04 chiếc thúng câu rời tàu và chéo đến 01 tàu cá gần đó là tàu số hiệu QNg-98772 - TS của tỉnh Quảng Ngãi và được tàu cá này cứu vớt ông H cũng toàn bộ thuyền viên lên tàu.

Sau khi được cứu và đưa vào bở, ông H đã trình bảo toàn bộ sự việc cho Trạm kiểm soát Biên phòng A và thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý khai báo, làm hồ sơ đề nghị Công ty Bảo hiểm BỊ chỉ trả tiền bảo hiểm tàu cả cho ông H theo hợp đồng bảo hiểm và đã hoàn thành đầy đủ hồ sơ hợp lệ vào ngày 19/12/2020. Nhưng phía Công ty Bảo hiểm B1 không thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm tàu cá cho ông H theo hợp đồng đã ký.

Nay ông Lương Văn H yêu cầu Tòa án buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B chỉ trả tiền bảo hiểm tàu cá QNa-909xx-TS với số tiền bảo hiểm sau khi khấu trừ 02% số tiền bồi thường theo hợp đồng là 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu đồng) và lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm kể từ ngày 19/12/2020 (ngày nộp đủ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm theo xác nhận tại Báo cáo giám định của Công ty cổ phần V) tạm tính đến ngày 07/7/2023 là 02 năm 06 tháng với mức lãi suất 10%, thành tiền là 600.250.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

 
 

Thống nhất với nội dung trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Tổng Công ty Bảo hiểm B (gọi tắt là Bảo hiểm B) thừa nhận ông Lương Văn H có tham gia bảo hiểm đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo hợp đồng bảo hiểm tàu cả số QNA.BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019. Ngày 02/6/2020, tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS gặp nạn trên vùng biển Việt Nam. Ngày 03/6/2020, ông Lương Văn H đã có thông báo tổn thất và Bảo hiểm B đã cử nhân viên đền nhá ông H để thu thập hồ sơ. Ngày 09/6/2020, Bảo hiểm B đã có yêu cầu giảm định gửi Công ty cổ phần V để yêu cầu giám định tổn thất đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS. Tuy nhiên, căn cứ vào Báo cáo giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC ngày 11/5/2023 của Công ty cổ phần V thì nguyên nhân tàu cá QNa-909xx-TS bị chìm theo khai báo của chủ tàu là do gió Tây Nam cấp 5 đến cấp 6, kèm theo gió dông lốc dẫn đến sóng lớn va đập vào xô mũi gây bế vỡ chìm tàu đã không phù hợp với tình hình thời tiết thực tế tại khu vực tàu bị chìm như văn bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung bộ xác báo. Mặt khác, theo báo cáo giám định thì nhận thấy tàu QNa-909xx-TS đã được sử dụng 08 năm, thời gian tàu được đưa lên để bảo dưỡng hồ xăm, sơn vỏ tàu cũng đã 11 tháng, trong điều kiện thời tiết bình thường của chuyển hành trình mà tàu xảy ra tai nạn thì khả năng lớn là do hao mòn mục thủng tự nhiên vỏ tàu nên khi hành trình đi biển chịu tác động của sóng gió gây phá nước chìm tàu.

Trên cơ sở Báo cáo giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC ngày 11/5/2023 thì Bảo hiểm B không thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn H.

Về đơn vị giám định độc lập là Công ty cổ phần V là đơn vị do Bảo hiểm B chỉ định giám định và có trách nhiệm thay mặt Bảo hiểm B làm việc, yêu cầu người được bảo hiểm cung cấp hồ sơ đề ban hành báo cáo giám định và chịu trách nhiệm về báo cáo giám định của mình. Việc Bảo hiểm B yêu cầu Công ty cổ phần V giám định thì Bảo hiểm B tự yêu cầu, không hỏi ý kiến của ông Lương Văn H.

Về thời điểm Công ty cổ phần V nhận đủ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H thì Bảo hiểm B không nắm được vì ông H tự nộp cho Công ty cổ phần V.

Bảo hiểm B chỉ chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H trên cơ sở hồ sơ yêu cầu bảo hiểm đầy đủ và thời hạn để chấp nhận hay không chấp nhận bảo hiểm là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Ngày nhận đủ hồ sơ theo Bảo hiểm B xác định là ngày 11/5/2023 - ngày Công ty cổ phần V có Báo cáo giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cả số 36 TT/20VJC. Tỉnh tử ngày 11/5/2023 đến nay thì Bảo hiểm B vẫn chưa có văn bản chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H. Tuy nhiên, ông Lương Văn H đã khởi kiện thì phía bị đơn có ý kiến không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Bị đơn không thống nhất ngày mà nguyên đơn cho rằng đã nộp đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường là ngày 19/12/2020 vì ngày 28/6/2022 Công ty cổ phần V đã có văn bản số 146/VJC yêu cầu ông H bổ sung thêm chứng cứ và đã gửi qua bưu điện cho ông H, nhưng không rõ thời gian gửi. Tuy nhiên, hiện nay phía bị đơn chưa cung cấp được chứng cứ về việc gửi văn bản yêu cầu cho ông H.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Bùi Thị P trình bày:

Tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS là tài sản chung vợ chồng tôi (Lương Văn H và Bùi Thị P). Tôi thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn H và trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng A trình bày:

Cân cử Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, ông Lương Văn H có vay vốn tại Ngân hàng A, huyện N, tỉnh Quảng Nam, số tiền: 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay là tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 17B/01/2019-HĐTC ngày 21/01/2019 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm.

Tàu cá đăng ký số hiệu QNa-909xx-TS đã gặp tai nạn và bị chìm trên biển, ông Lương Văn H khởi kiện yêu cầu Bảo hiểm B phải bồi thường tiền bảo hiểm. Vì vậy, Ngân hàng A đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xem xét, nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn H thì đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xem xét giải quyết:

Buộc Bảo hiểm B phải chuyển tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H cho Ngân hàng A là người thụ hưởng đầu tiên và duy nhất theo nội dung thỏa thuận tại Điều 3 của Cam kết chuyển quyền thụ hưởng bảo hiểm số QNA. BHHS, 19.161 ngày 27/08/2019 kỷ giữa 03 bên là Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam với ông Lương Văn H và Công ty Bảo hiểm B1. Tạm tỉnh đến ngày 05/7/2023, ông Lương Văn H phải trả cho Ngân hàng A khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, gồm: nợ gốc: 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ, bảy trăm triệu đồng); nợ lãi: 1.041.616.653 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi một triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). Tổng cộng: 3.741.616.653 đồng (Ba tỷ, bảy trăm bốn mươi một triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng).

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Bảo hiểm B chuyên số tiền chi trả bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn H vào số tài khoản: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam để thanh toán cho khoản nợ vay và lãi vay của ông H theo hợp đồng tín dụng.

Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 141/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ: Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16, Điều 18, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 32, Điều 40, Điều 46 và Điều 47 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019); Điều 117, Điều 274, Điều 275, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn H đối với bị đơn Bảo hiểm B về việc: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm".

Buộc Bảo hiểm B phải bồi thường tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn 11 và bà Bùi Thị P theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019, số tiền: 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bồn trăm là một triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, số tiền: 599.583.056 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng).

Buộc Bảo hiểm B phải chuyển trả số tiền bồi thường bảo hiểm đối với tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ hưởng là Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020,

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chậm trả tiền và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 7 năm 2023, bị đơn Bảo hiểm B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quả trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của Bảo hiểm B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[2] Về tổ tụng:

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn Bảo hiểm B không rút đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm.

[4] Về thời hạn kháng cáo: bị đơn Bảo hiểm B kháng cáo trong thời hạn nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Những người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm B gồm bà Đỗ Phương A, ông Đinh Duy HI và bả Đỗ Minh A1 đã được tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6] Xét kháng cáo của bị đơn Bảo hiểm B thì thấy:

[7] Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm 1 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền, ích hợp pháp của các Công ty này.

[8] Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm Bảo hiểm B không cung cấp được cho Tòa án hợp đồng bảo hiểm ký kết giữa ông Lương Vân H với các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm 1 và Bảo hiểm B. Hơn nữa, theo Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/ ĐBH và Biên bản thỏa thuận phương án đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014 được ký giữa Bảo hiểm B và Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, bảo hiểm 1 thị Bảo hiểm B là doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu (Leader) tại địa bàn tỉnh Quảng Nam với tỷ lệ bảo hiểm là 55%; các Doanh nghiệp tham gia đồng bảo hiểm còn lại Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I (Follower) với tỷ lệ bảo hiểm là 15%. Tại Điều 2, trong Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/ĐBH ghi rõ Trách nhiệm và quyền hạn của Công ty bảo hiểm đứng dâu (Leader) là Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ ký hợp đồng bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chỉ trả tiền bồi thường và có quyền yêu cầu các Công ty đồng bảo hiểm góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong vụ án này Bảo hiểm B ký hợp đồng bảo hiểm với ông Lương Văn H nên Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chỉ trả tiền bồi thường cho ông Lương Văn H. Do vậy, Bảo hiểm B cho răng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm 1 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận.

[9] Tâu cả số hiệu QNa-909xx-TS là tài sản chung của vợ chồng ông Lương Vân H và bà Bùi Thị P được Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cả số 0001/2019/GCNĐK ngày 03/10/2019 đứng tên chủ tàu là ông Lương Văn H và được cấp Giấy phép khai thác thủy sản số 0925/2020/QNa-GPKTTS ngày 22/5/2020 với nghề chính là câu mục trên vùng khơi biển Việt Nam.

[10] Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 thì tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H được Công ty bảo hiểm B1 (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) bảo hiểm, gồm: Thân vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị với tổng giá trị bảo hiểm: 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bồn trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó: Vỏ tàu là 1.500.000.000 đồng, máy móc là 450.000.000 đồng và trang thiết bị là 500.000.000 đồng; Bảo hiểm tai nạn thuyền viên: 3.220.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020.

[11] Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đổi với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS là một dạng của hợp đồng bảo hiểm, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019) nên phát sinh hiệu lực kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020 được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019,

[12] Về nguyên nhân dẫn đến sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA. BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019:

[13] Theo ông Lương Văn H và các thuyền viên trên tàu khai báo: Trong khi tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS đang di chuyển ra khơi đến 19 giờ ngày 02/6/2020 tàu đang ở tại vị trí tọa độ 15032′N 109016'E thì bất ngờ bị gió động, sóng biển lớn đánh khiến tàu bị vỡ bè hai bên mũi nước tràn vào làm tàu bị chìm, mặc dù ông Lương Văn 11 và các thuyền viên trên tàu đã sử dụng mọi biện pháp để cứu tàu nhưng không được nên đã bỏ tàu.

[14] Phía Bảo hiểm B căn cứ Báo cáo giám định số 36TT/20JVC ngày 11/5/2023 của Công ty cổ phần V (đơn vị được Bảo hiểm B yêu cầu thực hiện giám định nguyên nhân và tổn thất do chim tàu) cho rằng nguyên nhân tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS bị chìm theo khai báo của ông H không phù hợp với thời tiết tại khu vực theo thông báo tại văn bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ và việc tàu cá QNa-909xx-TS đã được sử dụng 08 năm, thời gian tàu được đưa lên đà bảo dưỡng hồ xăm, sơn vỏ tàu cũng đã 11 tháng thì "... khả năng lớn là do hao mòn mục thùng tự nhiên vô tàu nên khi hành trình đi biển chịu tác động của sóng gió gây phá nước chìm tàu." để không chấp nhận chỉ trả tiền bảo hiểm theo yêu cầu của ông Lương Văn H.

[15] Xét thấy rằng: Về văn bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ cung cấp thông tin thời tiết trên vùng biển tàu cá QNa-909xx-TS bị chìm cho Công ty cổ phần V xác báo về thời tiết lúc 19 giờ ngày 02/6/2020 tại vị trí tọa độ 15032°N 109016 E dựa trên cơ sở ảnh mây vệ tỉnh và quan trắc khí tượng thủy văn. Kết quả này không thể ghi nhận những hình thái thời tiết cục bộ diễn biến nhanh vào những thời điểm nhất định trên vùng biển được xác báo. Việc báo cáo giám định cho rằng nguyên nhân tai nạn làm tàu chìm là do mòn, thủng tự nhiên là không có cơ sở, bởi lẽ: theo Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cả số 4800855 cấp ngày 20/12/2019 của Chi cục Thủy sản Q thì tàu cá QNa-909xx-TS đủ điều kiện an toàn kỹ thuật để hoạt động đến hết ngày 18/12/2020. Hơn nữa, tàu không được Bảo hiểm B và Công ty có phần V trục vớt để giám định nguyên nhân làm chìm tàu, đây chỉ là suy luận mang tính chủ quan về nguyên nhân chìm tàu mà không có chứng cứ để chúng mình nên không được chấp nhận. Do đó, có cơ sở để xác định nguyên nhân dẫn đến sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản sẽ QNA.BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019 là do bị gió động, sóng biển lớn đánh khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi nước tràn vào làm tàu bị chìm như lời trình bày của ông Lương Văn H và các thuyền viên là có căn cứ.

[16] Về việc Bảo hiểm B không đồng ý trả tiền lãi do chậm trả tiền bảo hiểm cho ông Lương Văn H.

[17] Bảo hiểm B cho rằng thời hạn để chấp nhận hay không chấp nhận bảo hiểm là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Ngày nhận đủ hồ sơ theo Bảo hiểm B xác định là ngày 11/5/2023 - ngày Công ty cổ phần V có Báo cáo Giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ: Đại diện theo pháp luật của Bảo hiểm B là ông Nguyễn Xuân VI - Tổng Giám dốc đã xác nhận tại bản tự khai ngày 26/6/2023:" Ngay sau khi xảy ra sự có, chủ tàu đã thông báo tổn thất tới Công ty bảo hiểm B1, UBND xã Tam Giang và Đồn biên phòng An Hòa để trình báo vụ việc... Ngày 09/12/2022, Bảo hiểm B nhận được Báo cáo giám định cuối cùng số 36TT/20VJC ... Báo cáo giám định cuối cùng số 36T1/20VJC ngày 09/12/2022 do Công ty cổ phần V phát hành...".

[18] Tiếp sau đó, Công ty cổ phần V lại ra Báo cáo Giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cả số 36 TT/20VJC ngày 11/5/2023 sau khi Tòa án thụ lý vụ án. Báo cáo này có nội dung tương tự với Báo cáo giám định cuối cùng số 36TT/20VJC ngày 09/12/2022 do Công ty cổ phần V phát hành, chỉ có phần xác định nguyên nhân dẫn đến tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS bị chìm ghi rõ hơn, nhưng nội dung cơ bản không thay đổi.

[19] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn xác định các giấy tờ trên do ông Lương Văn H sao công chứng và nộp cho Công ty bảo hiểm N và Công ty cổ phần V đầy đủ hồ sơ vào khoảng thời gian nửa cuối tháng 6 năm 2020 nhưng không có lập giấy biên nhận. Lời trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận vì phù hợp với thời điểm công chứng các giấy tờ trên và phù hợp với nội dung Công văn số 221/VJC ngày 29/9/2020 của Công ty cổ phần V yêu cầu ông H cung cấp thêm một số tài liệu đều nằm ngoài các tài liệu bắt buộc quy định tại Điều 8 của Quy tắc, điều khoản biểu phí bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ (Được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài chính). Do đó, không có cơ sở để chấp nhận việc đại diện Tổng Công ty Bảo hiểm B cho rằng ông 1 không nộp đầy đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường.

[20] Như vậy, sau khi sự cố tai nạn chìm tàu xảy ra ngày 02/6/2020 đến ngày 09/12/2022 thì Công ty cổ phần V mới ban hành Báo cáo giám định cuối cùng số 036TT/20VJC (lần đầu) là chậm trễ, kéo dài thời gian giám định (02 năm 06 tháng) mặc dù đã xác định không tiến hành trục vớt tàu do chi phí trục vớt cao hơn giá trị bảo hiểm theo hợp đồng (bảo giá trục vớt ngày 15/6/2020 của Công ty TNHH và Dịch vụ xây dựng Nguyễn Văn V2 là 2.500.000.000 đồng, bảo giá trục vớt ngày 15/6/2020 của Công ty Trục vớt T là 3.000.000.000 đồng) và phía Bảo hiểm B sau khi nhận báo cáo giám định cũng không có văn bản thông báo cho ông Lương Văn H biết việc có chấp nhận hay không chấp nhận chỉ trả tiền bồi thường đối với tổn thất của tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS hay không, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người được bảo hiểm tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận lời khai của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, xác định ngày ông Lương Văn H nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường hợp lệ là thời điểm Công ty cổ phần V nhận được Giấy yêu cầu bồi thường, chỉ trả tiền bảo hiểm của ông Lương Văn 11 vào ngày 19/12/2020 theo xác nhận tại mục IX của Báo cáo giám định cuối cùng số 036TT/20VJC ngày 09/12/2022.

[21] Theo quy định tại Điều 10 của Quy tắc, điều khoản biểu phí bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bở (Được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài chính), thi: “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường đầy đủ và hợp lệ. Trường hợp từ chối bồi thường phải giải thích rõ lý do bằng văn bản".

[22] Do đó, xác định ngày Bảo hiểm B vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền bảo hiểm cho ông Lương Văn H là từ ngày 08/01/2021.

[23] Tại Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS, các bên không thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm. Vì vậy, mức lãi suất chậm trả được áp dụng là 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[24] Tại phiên tòa, đại diện Bảo hiểm B xác nhận là không thực hiện trục vớt tàu được tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS do chi phí trục vớt, sửa chữa tàu lớn hơn giá trị hợp đồng bảo hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giao xác tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS cho Bảo hiểm B được. Như vậy, tổn thất của tâu cả số hiệu QNa-909xx-TS trong vụ tai nạn được xác định là 100%.

[25] Do tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS là tài sản chung vợ chồng ông Lương Văn H, bà Bùi Thị P. Vì vậy, có cơ sở buộc Bảo hiểm B chỉ trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và trả tiền lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông H, bà P.

[26] Buộc Bảo hiểm B chỉ trả tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tâu cả số hiệu QNa 909xx-TS cho ông Lương Văn H và bà Bùi Thị P sau khi đã khấu trừ 02% số tiền bồi thường, tương ứng số tiền: 2.450.000.000 đồng -(2.450.000.000 đồng x 02%) = 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu đồng) theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA. BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019.

[27] Đối với yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm: Ngày Bảo hiểm B vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2021 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án (ngày 07/7/2023) là 02 năm 05 tháng 29 ngày, lãi suất 10%/năm, thành tiền: 2.401.000.000 đồng x 10% x 02 năm 05 tháng 29 ngày = 599.583.056 đông (Năm trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng).

[28] Từ những nhận định trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Bảo hiểm B.

[29] Về việc chuyển quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS:

[30] Theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, ông Lương Văn H vay Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, số tiền 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bày trăm triệu đồng), tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay là tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 178/01/2019-HDTC ngày 21/01/2019 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật

[31] Theo Cam kết chuyển quyền thụ hưởng bảo hiểm số: QNA.BHHS. 19.161 ngày 27/8/2019 giữa Công ty Bảo hiểm B1, ông Lương Văn H và Ngân hàng A Chỉ nhảnh huyện N thì Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N là đơn vị thụ hưởng duy nhất số tiền bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS trong phạm vi khoản nợ (gốc và lãi vay). Tạm tỉnh đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 07/7/2023 thì dư nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, gồm: nợ gốc 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng), nợ lãi 1.041.616.653 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). Tổng cộng: 3.741.616.653 đồng (Ba tỷ, bảy trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng), Vì vậy, có đủ cơ sở để buộc Bảo hiểm B phải chuyển trả số tiền bồi thường bảo hiểm tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ hưởng là Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay và lãi vay của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020,

[32] Về án phí:

[33] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền: 92.011.660 đồng (Chín mươi hai triệu, không trăm mười một ngàn, sáu trăm sáu mươi đồng).

[34] Hoàn trả cho ông Lương Văn H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp: 45.808.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, tám trăm lẻ tám ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009953 ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

[35] Án phí dân sự phúc thẩm: Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bảo hiểm B, nên bị đơn Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bảo hiểm B, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 141/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Căn cứ: Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16, Điều 18, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 32, Điều 40, Điều 46 và Điều 47 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019); Điều 117, Điều 274, Điều 275, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ản phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn H đối với bị đơn Bảo hiểm B về việc: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm";

Buộc Bảo hiểm B phải bồi thường tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn H và bà Bùi Thị P theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019, số tiến: 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, số tiền: 599.583.056 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng).

Buộc Bảo hiểm B phải chuyển trả số tiền bồi thường bảo hiểm đối với tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ hưởng là Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền mà người phải thi hành án có nghĩa vụ phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền: 92.011.660 đồng (Chín mươi hai triệu, không trăm mười một ngăn. sáu trăm sáu mươi đồng).

Hoàn trả cho ông Lương Văn H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp: 45.808.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, tám trăm lẻ tám ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009953 ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

+ Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Bảo hiểm B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm,

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/06/2024).

NỘI DUNG ÁN LỆ

"[7] Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P. Bảo hiểm 1 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền, ích hợp pháp của các Công ty này.

[8] Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm Bảo hiểm B không cung cấp được cho Tỏa ản hợp đồng bảo hiểm ký kết giữa ông Lương Văn H với các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm 1 và Bảo hiểm B. Hơn nữa, theo Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/ ĐBH và Biên bản thỏa thuận phương án đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014 được ký giữa Bảo hiểm B và Bảo hiểm M, Bảo hiểm P. bảo hiểm 1 thì Bảo hiểm B là doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu (Leader) tại địa bàn tỉnh Quảng Nam với tỷ lệ bảo hiểm là 55%, các Doanh nghiệp tham gia đóng bảo hiểm còn lại Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm 1 (Follower) với tỷ lệ bảo hiểm là 15%. Tại Điều 2, trong Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/DBH ghi rõ Trách nhiệm và quyền hạn của Công ty bảo hiểm đứng đầu (Leader) là Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ ký hợp đồng bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và có quyền yêu cầu các Công ty đồng bảo hiểm góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong vụ án này Bảo hiểm B ký hợp đồng bảo hiểm với ông Lương Văn H nên Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chi trả tiền bởi thưởng cho ông Lương Văn H. Do vậy, Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P. Bảo hiểm 1 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận"

"[10] Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019 thì tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H được Công ty bảo hiểm B1 (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) bảo hiểm, gồm: Thân vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị với tổng giá trị bảo hiểm: 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bồn trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó: Vỏ tàu là 1.500.000.000 đồng, máy mộc là 450.000.000 đồng và trang thiết bị là 500.000.000 đồng: Bảo hiểm tai nạn thuyền viên: 3.220.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm kẻ từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020.

[11] Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA BHHS. 19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cả số hiệu QNa-909xx-TS là một dạng của hợp đồng bảo hiểm, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019) nên phát sinh hiệu lực kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020 được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA BHHS 19.1611 ngày 27/8/2019.

Bài viết cùng chuyên mục

Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên.

Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên.

Tình huống án lệ: Bị cáo mua xe ô tô nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, người bán xác nhận đã bán xe ô tô cho bị cáo và không tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Sau đó, bị cáo sử dụng xe ô tô này làm công cụ, phương tiện phạm tội. Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, tòa án phải xác định xe ô tô là tài sản của bị cáo và tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Án lệ số 75/2025/AL về thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản

Án lệ số 75/2025/AL về thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản

Tình huống án lệ: Chủ sở hữu tài sản không trông coi, quản lý tài sản của mình và cũng không giao cho ai trông coi, quản lý tài sản. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đưa ra các thông tin không đúng để người không được giao trông coi, quản lý tài sản tin rằng bị cáo là người thân quen của chủ sở hữu tài sản và giao tài sản này cho bị cáo. Bị cáo đã chiếm đoạt tài sản này. Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.

Án lệ số 74/2025/AL về việc định tội danh “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ

Án lệ số 74/2025/AL về việc định tội danh “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ

Tình huống án lệ: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi phạm của cơ quan có thẩm quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu. Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.

Án lệ số 73/2025/AL về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”

Án lệ số 73/2025/AL về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”

Tình huống án lệ: Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại làm bị hại rơi xuống biển, sau đó bị cáo đe dọa người khác không cho cứu giúp bị hại. Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, tòa án phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” đối với bị cáo.

Án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản

Án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản

Tình huống án lệ: Các bên giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ, sau đó thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn (bên cung ứng dịch vụ) yêu cầu bị đơn (bên sử dụng dịch vụ) trả tiền dịch vụ; bị đơn đồng ý sẽ trả tiền nhưng chưa trả nên nguyên đơn khởi kiện tại tòa án yêu cầu bị đơn trả tiền. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, toà án phải xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản và không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

phone phone phone