TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO - BỘ TƯ PHÁP - BỘ CÔNG AN

 

Số: 02/2000/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------------------------------------------

Hà Nội, ngày 05 tháng 07 năm 2000

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 vàMục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH1O ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Quốc hội

 

Ngày 21-12-1999, Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Bộ luật hình sự mới củanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999).Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH10 "Về việc thi hành Bộluật hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 32).Để thi hành đúng các quy địnhtại Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 "Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thờigian" và các quy định tại Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội về việc ápdụng Bộ luật hình sự kể từ ngày 01-7-2000, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây: 

  1. Khoản 1 Điều 7 Bộ luật hìnhsự năm 1999 quy định: "Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tộilà điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội đượcthực hiện". Việc thi hành khoản 1 này đã được quy định tại điểm a Mục 2Nghị quyết số 32 của Quốc hội; cụ thể là: "tất cả các điều khoản của Bộluật hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối vớingười thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000".

    2. Khoản 2 Điều 7 Bộ luật hìnhsự năm 1999 quy định: "Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạtnặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo,miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quyđịnh khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hànhvi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành"; cụthể là theo điểm c Mục 2 Nghị quyết số 32 của Quốc hội, thì các quy định này"không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xétxử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá ántích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản phápluật hình sự trước đây để giải quyết". Khi thi hành các quy định này cầnchú ý một số điểm sau đây:

a- Được coi là tội phạm mới nếu theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì đó là hành vi nguy hiểm cho xãhội và người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưngtheo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 thì hành vi đó không phải là tộiphạm và người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cụthể khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a.1- Hành vi chưa được quy địnhthành một tội cụ thểtrong một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng nay đã được quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụthể của Bộ luật hình sự năm 1999.Ví dụ : Hành vi sử dụng lao độngtrẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độchại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xửphạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm chưa được quy định thành một tộicụ thể trong một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng nay đã đượcquy định thành tội "Vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em" tại Điều 228 Bộ luật hình sự 1999; do đó, nếu hành vi này được thực hiện trước 0giờ 00 ngày 01-7-2000 thì người thực hiện hành vi đó không phải bị truy cứutrách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi này được thực hiệnkể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truycứu trách nhiệm hình sự theo Điều 228 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội "Viphạm quy định về sử dụng lao động trẻ em".

a.2- Hành vi chưa được quy địnhtrong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 về một tội cụ thể, nay mới được bổsung vào điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội cụthể đó.
Ví dụ: Hành vi xâm phạm quyềnứng cử của công dân chưa được quy định trong Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1985,nay đã được quy định bổ sung vào Điều 126 Bộ luật hình sự năm 1999; do đó, hànhvi xâm phạm quyền ứng cử của công dân nếu được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày01-7-2000 thì người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sựmà chỉ bị xử lý hành chính; nếu hành vi đó được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày01-7-2000, thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hìnhsự theo Điều 126 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội "Xâm phạm quyền bầu cử,quyền ứng cử của công dân".
* Cần chú ý rằng không coi làtội phạm mới, nếu hành vi vi phạm chưa được quy định thành một tội cụ thể trongmột điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng thực tiễn điều tra,truy tố, xét xử cho thấy người thực hiện hành vi này vẫn phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự theo Bộ luật này, mặc dù nay mới được Bộ luật hình sự năm 1999quy định thành một tội cụ thể trong một điều luật cụ thể (thường là các trườnghợp tách tội hoặc cụ thể hoá một tội trong Bộ luật hình sự năm 1985 thành nhiềutội trong Bộ luật hình sự năm 1999).
Ví dụ: Hành vi đua xe trái phépchưa được quy định thành tội "Đua xe trái phép" trong Bộ luật hình sựnăm 1985, nay mới được quy định thành tội "Đua xe trái phép" (Điều207) trong Bộ luật hình sự năm 1999, song căn cứ vào quy định tại Điều 198 Bộluật hình sự năm 1985, thì người đua xe trái phép có thể bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng".

b- "Hình phạt nặnghơn" mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định so với điều luậtcủa Bộ luật hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau:

b.1- Nếu về cùng một tội phạmmà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định loại hình phạt nặng hơn so với loại hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985.
Ví dụ: Điều 104 Bộ luật hình sựnăm 1999 có quy định loại hình phạt "tù chung thân" là loại hình phạtnặng hơn hình phạt tù có thời hạn (Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy địnhhình phạt tù có thời hạn với mức cao nhất là 20 năm tù); do đó, đối với tội"Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác",thì điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn; cho nênđối với người phạm tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻcủa người khác" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mớibị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 109Bộ luật hình sự năm 1985.

b.2- Nếu về cùng một tội phạmmà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt nhưđã được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 cao hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quyđịnh trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985.
Ví dụ: Về tội "Xâm phạmquyền tác giả" thì Điều 131Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hìnhphạt nặng hơn so với Điều 126 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì trong cả haiđiều luật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khunghình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 131 Bộ luật hình sự năm 1999 là 3(ba) năm tù, còn trong Điều 126 Bộ luật hình sự năm 1985 là 1 (một) năm tù; dođó, đối với người phạm tội "xâm phạm quyền tác giả trước 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự,thì vẫn áp dụng Điều 126 Bộ luật hình sự năm 1985.

b.3- Nếu về cùng một tội phạmmà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt nhưđã được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 và mức hình phạttối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luậthình sự năm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy địnhtrong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khunghình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999cao hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điềuluật của Bộ luật hình sự năm 1985.
Ví dụ: Về tội "Hành nghềmê tín, dị đoan" thì Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạtnặng hơn so với Điều 199 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điềuluật này đều quy định hình phạt tù có thời hạn và mức tối đa của khung hìnhphạt nặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều 10 (mười) năm tù),nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1999 là 6 (sáu) tháng tù, còn của khoản 1 Điều 199 Bộ luật hình sự năm 1985 là 3 (ba) tháng tù;do đó, đối với người phạm tội "Hành nghề mê tín, dị đoan" trước 0 giờ00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì vẫn áp đụng Điều 199 Bộ luật hình sự năm 1985.

b.4- Nếu về cùng một tội phạm mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật hình sự năm1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mứctối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định loạihình phạt chính khác nhẹ hơn để Tòa án có thể lựa chọn, nay trong điều luật củaBộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt chính nhẹ hơn này.
Ví dụ: Về tội "Tàng trữ,vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phépchất ma tuý", thì Điều 195 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạtnặng hơn so với Điều 185g Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điềuluật này đều quy định hình phạt tù chung thân, tù có thời hạn từ một năm đến 20năm, nhưng trong Điều 195 Bộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nhẹ hơnmà trong Điều 185g Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định; đó là hình phạt tiền.

b.5- Nếu về cùng một tội phạmmà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 ngoài việc quy định các loại hìnhphạt chính và mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985,còn quy định thêm hình phạt bổ sung.
Ví dụ: Về tội "Vukhống", thì Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn so với Điều 117 Bộ luật hình sự năm 1985 bởi vì tuy trong cả hai điều luật nàyđều quy định các loại hình phạt chính là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn như nhau và các mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất cũng như các mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất bằng nhau (mức tối đa đều là 7 năm tù và mức tối thiểu là hình phạt cảnh cáo), nhưng Điều 122 Bộ luậthình sự năm 1999 còn quy định thêm hình phạt bổ sung: "có thể bị phạttiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1năm đến 5 năm"; do đó, đối với người phạm tội "Vu khống" trước 0giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu tráchnhiệm hình sự, thì vẫn áp dụng Điều 117 Bộ luật hình sự năm 1985.

b.6- Đối với tội phạm được quyđịnh trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được táchra từ một khoản của điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, thì hình phạt nặnghơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối với tội phạm được quy địnhtrong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm đượcquy định trong khoản tương ứng của điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 theohướng dẫn tại các điểm b1, b2, b3, b4 và b5 trên đây.
Ví dụ: Đối với tội"giết con mới đẻ", thì việc xác định hình phạt nặng hơn hay nhẹ hơnbằng cách so sánh Điều 94 Bộ luật hình sự năm 1999 với khoản 4 Điều 101 Bộ luậthình sự năm 1985.

b.7- Trong trường hợp theo cáchxác định được hướng dẫn tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 trên đây thì thấyhình phạt mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là nặng hơn so vớihình phạt mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 quy định, nhưng điều luậtcủa Bộ luật hình sự năm 1999 lại có "quy định khác có lợi" cho ngườiphạm tội, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 để truycứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00ngày 01-7-2000, nhưng cũng phải áp dụng tinh thần "quy định khác cólợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 trongviệc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Ví dụ: Về tội "Bức tử", thì Điều 100 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nặng hơn sovới Điều 105 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì trong cả hai điều luật này đềuquy định hình phạt tù có thời hạn, nhưng mức tối đa của khung hình phạt nặngnhất và mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong Điều 100Bộ luật hình sự năm 1999 là 12 năm tù và 2 năm tù, còn trong Điều 105 Bộ luậthình sự năm 1985 là 7 năm tù và 1 năm tù. Tuy nhiên, Điều 105 Bộ luật hình sựnăm 1985 có quy định hình phạt bổ sung: "có thể bị cấm đảm nhiệm nhữngchức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định từ 2 năm đến 5 năm", còn Điều 100 Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định hình phạt bổ sung này; do đó,đối với người phạm tội "Bức tử" trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụng Điều105 Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng cần áp dụng tinh thần quy định tại Điều 100Bộ luật hình sự năm 1999 là cho dù trong bất kỳ trường hợp nào cũng không ápdụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội.
c- "Tình tiết tăng nặngmới" là tình tiết chưa được quy định tại Điều 39 hoặc chưa được quy địnhlà một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quyđịnh về một tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1985, nay đã được quy địnhtại Điều 48 hoặc đã được quy định là một tình tiết tăng nặng định khung hìnhphạt trong một điều luật cụ thể quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luậthình sự năm 1999. Như vậy cần chú ý là không được áp dụng tình tiết tăng nặngmới này đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
đ- "Quy định khác không có lợi cho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, xoá án tích hoặc gây bất lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1985.
Ví dụ 1:Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm a khoản 1 Điều 50Bộ luật hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội so với quy định tạiĐiều 41 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hìnhsự năm 1985 thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ phải bảo đảmhình phạt chung không được vượt quá hai năm và việc tổng hợp hình phạt tù có thời hạn phải bảo đảm hình phạt chung không được vượt quá hai mươi năm; nay theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999 thì hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối vớihình phạt tù có thời hạn; do đó, đối với người phạm nhiều tội trước 0 giờ 00ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợphình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạnthì vẫn áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1985.
Ví dụ 2: Quy định về phạt tiền tại Điều 72 Bộ luật hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội vì mới được bổ sung vào Bộ luật này; do đó, đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 thì từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù có thu nhập hoặc có tài sản riêng, nếu sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử, thì Toà án không được ápdụng hình phạt tiền.


  1. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, mộttình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mớihoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hìnhphạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạmtội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luậtđó có hiệu lực thi hành".

a- Về quy định "điều luật xoá bỏ một tội phạm" có nghĩa là hành vi mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội phạm, nhưng Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm,thì theo quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội được áp dụng kể từ ngày Bộ luật hình sự năm 1999 được công bố (ngày 4-1-2000) và đã được hướng dẫn tại Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 12tháng 6 năm 2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành Mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội và Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28-1-2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội."
b- "Xoá bỏ một hình phạt" là hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 nay khôngđược quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999; cụ thể là hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội" (hình phạt chính) và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" (hình phạt bổ sung). Như vậy, cần chú ý là Toà ánkhông được áp dụng hình phạt "cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội"là hình phạt chính và hình phạt "tước danh hiệu quân nhân" là hình phạtbổ sung đối với quân nhân thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị xét xử. Trong trường hợp này,nếu theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 có thể áp dụng hình phạt"Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội", thì nay cần áp dụng hìnhphạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật hình sự năm 1985 (hìnhphạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 24 Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹhơn so với quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1999).

c- "Xoá bỏ một tình tiếttăng nặng" là tình tiết đã được quy định tại Điều 39 hoặc đã được quy địnhlà một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong một điều luật cụ thể quyđịnh về một tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1985, nay không được quy địnhtại Điều 48 hoặc không được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hìnhphạt trong một điều luật cụ thề quy định về một tội phạm cụ thể của Bộ luậthình sự năm 1999.Ví dụ: Tình tiết tăngnặng định khung hình phạt "có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 (hoặckhoản 3) Điều này" được quy định trong một số điều luật (Điều 185b, Điều185c...) của Bộ luật hình sự năm 1985, nay không được quy định trong bất kỳ mộtđiều luật nào của Bộ luật hình sự năm 1999; vì vậy, kể từ 0 giờ 00 ngày01-7-2000 không được áp dụng tình tiết này trong việc truy cứu trách nhiệm hìnhsự đối với người phạm tội.

d- Hình phạt nhẹ hơn mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định so với điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 quy định được xác định như sau:

d1. Nếu về cùng một tội phạm màđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ loại hình phạt nặng nhất được quyđịnh trong điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985.Ví dụ: Đối với tội vận chuyểntrái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới thì Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999đã bỏ hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân mà Điều 97 Bộ luật hình sựnăm 1985 có quy định hai loại hình phạt này; do đó, đối vời người phạm tội vậnchuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụngĐiều 154 Bộ luật hình sự năm 1999.

d2. Nếu về cùng một tội phạm màđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã đượcquy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đacủa khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 thấp hơn mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trongđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1985.Ví dụ : Về tội " Đầucơ", thì Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn sovới Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1999 là 15 (mườilăm) năm tù, còn trongĐiều 165 Bộ luật hình sự năm 1985 là tù chungthân; do đó, đối với người nào phạm tội đầu cơ trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 màsau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì áp dụngĐiều 160 Bộ luật hình sự năm 1999 .

đ3. Nếu về cùng một tội phạm màđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định cùng loại hình phạt như đã đượcquy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 và mức hình phạt tối đa của khung hình phạt nặng nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sựnăm 1999 bằng mức tối đa của khung hình phạt nặng nhất đượcquy địnhtrong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng mức tối thiểu của khunghình phạt nhẹ nhất được quy định trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhẹ nhất được quy định trong điềuluật của Bộ luật hình sự năm 1985.Ví dụ: Về tội "Buôn lậu", thì Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 97 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì mức tối đa của khung hình phạtnặng nhất quy định tại hai điều luật này bằng nhau (đều tử hình), nhưng mức tối thiểu của khoản 1 Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999 là phạt tiền 10 triệu đồnghoặc phạt tù 6 (sáu) tháng, còn của khoản 1 Điều 97 Bộ luật hình sự năm 1985 làphạt tù 2 (hai) năm; do đó, đối với người phạm tội buôn lậu trước 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự,thì áp dụng Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999.

d4. Nếu về cùng một tội phạm màđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 và điều luật của Bộ luật hình sự năm1985 đều quy định loại hình phạt chính nặng nhất như nhau (về mức tối đa và mứctối thiểu), nhưng trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định loạihình phạt chính khác nhẹ hơn để Toà án có thể lựa chọn, nhưng trong điều luậtcủa Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định loại hình phạt chính nhẹ hơn này.

d5. Nếu về cùng một tội phạm màđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định các loại hình phạt chính,mức hình phạt như trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 và đã bỏ hìnhphạt bổ sung mà trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định.

d6. Đối với tội phạm được quyđịnh trong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng tội phạm đó được táchra từ một khoản của điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, thì hình phạt nhẹhơn được xác định bằng cách so sánh hình phạt đối vời tội phạm được quy địnhtrong điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 với hình phạt đối với tội phạm đượcquy định trong khoản tương ứng cửa điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 theohướng dẫn tại các điểm d1, d2, d3, d4 và d5 trên đây.
d7. Trong trường hợp theo cáchxác định được hướng dẫn tại các điểm, từ điểm d1đến điểm d6 trên đâycho thấy hình phạt mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là nhẹhơn so với hình phạt mà điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 quy định, nhưngđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 lại có "quy định khác không cólợi" cho người phạm tội, thì tuy áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự năm1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tộitrước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, nhưng không được áp dụng "quy định kháckhông có lợi" cho người phạm tội trong điều luật của Bộ luật hình sự năm1999 trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong trườnghợp này vẫn áp dụng theo tinh thần quy định trong điều luật tương ứng của Bộluật hình sự năm 1985 có lợi hơn cho người phạm tội.đ- "Quy định khác có lợicho người phạm tội" là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luậthình sự năm 1999 và nếu áp dụng quy định mới này thì mở rộng phạm vi áp dụng ántreo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tíchhoặc có lợi khác cho người phạm tội so với việc vẫn áp dụng quy định của Bộluật hình sự năm 1985.Ví dụ 1: Quy định vềquyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điểm b khoản 1 Điều 50Bộ luật hình sự năm 1999 là có lợi cho người phạm tội so với quy định tại đoạn2 khoản1Điều 43 Bộ luật hình sự năm 1985, bởi vì theo quy địnhtại đoạn 2 khoản 1 Điều 43 Bộ luật hình sự năm 1985 thì khi tổng hợp hình phạtcải tạo không giam giữ với hình phạt tù có thời hạn, thì chuyển hình phạt cảitạo không giam giữ thành hình phạt tù để quyết định hình phạt chung. Cứ mộtngày cải tạo không giam giữ thành một ngày tù. Nay theo quy định tại điểm bkhoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999, thì việc chuyển hình phạt cải tạokhông giam giữ thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữđược chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp hình phạt chung; do đó, đối vớingười phạm nhiều tội trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày01-7-2000 mới bị xét xử thì việc tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ vớihình phạt tù có thời hạn được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều50 Bộ luật hình sự năm 1999.Ví dụ 2: Quy định có thể ápdụng hình phạt bổ sung trong một số điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 làcó lợi hơn cho người phạm tội so với quy định việc áp dụng hình phạt bổ sung làbắt buộc trong một số điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985.
  1. Đối với những tội phạm đã đượcquy định trong một điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985, nay theo cách sosánh tại các điểm từ điểm b1 đến điểm b6 Mục 2 và tại các điểm từ điểm d1 đếnđiểm d6 Mục 3 Thông tư này mà vẫn giữ nguyên trong điều luật tương ứng của Bộluật hình sự năm 1999, thì áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 đểtruy cứu trách nhiệm hình sự. Cần chú ý là nếu so sánh mứchình phạt trong các khung hình phạt tăng nặng tương ứng cho thấy điều luật củaBộ luật hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt tối thiểu cao hơn hoặc mứchình phạt tối đa cao hơn, thì tuy vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự nằm1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tộitrước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, nhưng chỉ được xử phạt họ với mức hình phạttrong khung hình phạt tăng nặng tương ứng mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định.
  2. Trong trường hợp một ngườibị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội nào đó với nhiều hànhvitrong đó có hành vi được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, có hành vi đượcthực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, mà điều luật của Bộ luật hình sự năm1999 quy định hình phạt nặng hơn, thì vẫn áp dụng điều luật của Bộ luật hình sựnăm 1999 để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng khi quyết định hình phạt cầncân nhắc số lượng và tính chất của các hành vi được thực hiện trước cũng nhưcác hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 để quyết định một mứchình phạt cho thoả đáng đối với tất cả các hành vi đó.
  3. Trong trường hợp một ngườibị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội, trong đó có tội được thực hiện trước0 giờ 00 ngày 01-7-2000, có tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000,thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo các hướng dẫn tại cácmục 1, 2, 3, 4 và 5 Thông tư này và việc tổng hợp hình phạt được thực hiện theoquy định của Bộ luật hình sự năm 1999; tuy nhiên cần chú ý:

a- Nếu các hình phạt đã tuyêncùng là cải tạo không giam giữ mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội đượcthực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi trên hai năm, thì hình phạtchung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với cáctội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7 -2000 trở đi (nhưng không được vượtquá ba năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thực hiện kểtừ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai năm, thì hình phạt chung đốivới tất cả các tội không được vượt quá hai năm.

b- Nếu các hình phạt đã tuyêncùng là hình phạt tù, mà cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thựchiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi trên hai mươi năm, thì hình phạtchung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đối với cáctội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (nhưng không được vượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội được thựchiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm.

c- Nếu các hình phạt đã tuyênlà cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn mà cộng các hình phạt đã tuyên đốivới các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (theo quy địnhtại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự năm l999) trên hai mươi năm, thìhình phạt chung đối với tất cả các tội bằng mức cộng các hình phạt đã tuyên đốivới các tội được thực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi (nhưng không đượcvượt quá ba mươi năm); nếu cộng các hình phạt đã tuyên đối với các tội đượcthực hiện kể từ 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 trở đi không quá hai mươi năm, thì hình phạt chung đối với tất cả các tội không được vượt quá hai mươi năm.
  1. Đối với những hành vi phạm tội được thực hiện và bị xét xử trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà bản án, quyếtđịnh của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì không được căn cứ vào những quyđịnh của Bộ luật hình sự năm 1999 có nội dung khác so với các điều luật của Bộluật hình sự năm 1985 đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999, tại các điểm b và c Mục 2 Nghị quyết số 32 của quốc hội và các hướng dẫn tại Thông tư này.

    8. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2000 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫnthi hành quy định của các văn bản pháp luật hình sự trước đây về hiệu lực củaBộ luật hình sự về thời gian. Trong quá trình thực hiện, nếucó gì vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổsung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dântối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.

BỘ CÔNG AN

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Lê Thế Tiệm

BỘ TƯ PHÁP

BỘ TRƯỞNG

(Đã ký)

Nguyễn Đình Lộc

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

(Đã ký)

Phạm Sĩ Chiến

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

CHÁNH ÁN

(Đã ký)

Trịnh Hồng Dương