Câu hỏi: Kính gửi Công ty Luật tại Hà Nội. Tôi là Minh đến từ Bắc Ninh, tôi có câu hỏi liên quan tơi hôn nhân gia đình muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp. Tôi là con nuôi được bố mẹ tôi nuôi từ năm 1980 đến nay, ông bà không có con chung. Tháng 7 năm 2019, mẹ tôi không may qua đời., không để lại di chúc. Tôi muốn hỏi tôi có thể là người thừa kế của mẹ tôi hay không?

Trả lời:

Công ty Luật DRAGON xin cảm ơn câu hỏi của anh đã gửi tới luật sư. Tổ tư vấn luật Hôn nhân  - gia đình xin tư vấn anh như sau:

Những ai được hưởng thừa kê theo pháp luật?

Theo  Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người để lại di sản thừa kế chết mà không để lại di chúc thì di sản thừa kế được chia theo thứ tự các hàng sau đây:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Về nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi, do đó, nếu anh là con nuôi vẫn có thể nhân di sản thừa kế của mẹ anh để lại.

Vì anh không nói rõ là việc nhận nuôi anh, bố mẹ anh có tiến hành đăng ký hay không? Nên phía Luật sư sẽ tư vấn các trường hợp để anh được rõ.

1) Trường hợp việc con nuôi được đăng ký

Theo quy định, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ được xác lập khi:

- Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi;

- Trường hợp việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế mà chưa đăng ký trước ngày 1/1/2011, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật nuôi con nuôi thì được đăng ký kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại UBND cấp xã nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi (căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi).

Khoản 1 Điều 50 quy định điều kiện gồm:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Như vậy, nếu việc nuôi con nuôi giữa anh và bố mẹ nuôi của anh đã được đăng ký theo quy định nêu trên thì quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Do đó anh có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại và ngược lại.

2) Trường hợp, việc nhận con nuôi không được đăng ký

Trường hợp anh được nhận nuôi từ năm 1980 mà không được đăng ký thì anh không phải là con nuôi hợp pháp của bố mẹ anh mà là con nuôi thực tế.

Nếu bố anh và các hàng thừa kế đầu tiên công nhận anh là cùng hàng thừa kế; và trong các giấy tờ nhân thân như sổ hộ khẩu, chúng mình thư; sơ yếu lí lịch…đều thể hiện anh là con của bố mẹ anh thì anh vẫn có thể được công nhận là người thừa kế của mẹ anh và được hưởng phần thừa kế theo pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty Luật DRAGON, hi vọng có thể hỗ trợ anh giải đáp các thắc mắc.

Liên hệ công ty Luật uy tín tư vấn di chúc:

Công ty Luật DRAGON với đội ngũ Luật sư chuyên đất giàu kinh nghiệm, tham gia bảo vệ lợi  ích cho các hộ gia đình, tổ chức có đất bị nhà nước thu hồi. Công ty có chính sách hỗ trợ chi phí  trường hợp khách hàng là người bị hại; hô nghèo; gia đình chính sách…

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:

Công ty Luật Dragon – Hotline: 1900599979
Website: http://congtyluatdragon.com
Email : dragonlawfirm@gmail.com
Facebook : https://www.facebook.com/vanphongluatsudragon
Văn phòng Luật sư tại Hà Nội: Phòng 14.6, Tầng 14, Tòa nhà Vimeco, đường Phạm Hùng, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.

Văn phòng Luật sư tại Long Biên: số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Long Biên, Hà Nội.
Văn Phòng Luật Sư tại Hải Phòng: Phòng 4.6 Tòa nhà Khánh Hội, Lô 2/3C đường Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.